Minh họa: PHƯƠNG THANH |
Nhà nằm chênh vênh lưng chừng dốc.
Lúc cha cắm rựa xuống núi hỏi mẹ cao chừng ni được chưa, mẹ lắc đầu thì cha lại leo thêm một đoạn dốc, lại hỏi: Được chưa? Được chưa? Khi mẹ gật đầu thì cha mới cắm cọc, phát luồng dựng cột, buộc kèo. Mẹ muốn ở thật cao giữa rừng luồng bạt ngàn, thật xa bà nội, để tiếng bà gọi cháu, gọi con trai sẽ rơi hẫng ở lưng đồi. |
Nhà
lọt thỏm giữa rừng luồng bạt ngàn, gió bốn bề thản nhiên lục lọi, mưa
lung lay những vì kèo chắp nối thách thức cha ràng cột hết ngày này sang
ngày khác. Mỗi lần trèo thang sửa nhà sau trận mưa dông, mồ hôi cha nhỏ
xuống cả tóc Xuân đang cố ghìm thang tre sợ cha bị ngã. Cha lầm bầm
những gì không rõ, còn mẹ bền bỉ thản nhiên thu gom cành lá gãy rụng
quanh nhà. Sau cơn mưa, nền đất trong nhà sục lên lớp bùn đỏ, đất đá núi
không vồ nện nào làm cho phẳng được, trải phên phên mục, lót gỗ thì lên
nấm lên men. Nhà bà nội dưới chân dốc rộng thênh thang mẹ không muốn ở,
mẹ leo thật cao lên dốc làm gì, rút cục có chia rẽ được ai đâu, bà nội
vẫn canh giờ Xuân đi học về là vẫy vào dúi cho Xuân củ khoai cái bánh,
quả na trong vườn vừa chín, hay cái đùi gà, nắm xôi trong mâm cúng mồng
một hôm rằm. Xuân chỉ ước được thu mình giữa chiếu chăn giường bà, nằm
đấy mưa gió ngoài kia tha hồ gào thét, thứ hương thoang thoảng của miếng
trầu bà nhai cứ ấm êm ve vuốt giấc ngủ lành.
Nhưng Xuân cũng thương mẹ, em hay ngồi trong bàn học nhìn qua ô cửa sổ
nơi mẹ giặt đồ mà đong đếm từng chút xà bông, gáo nước. Trên đồi chỉ có
củi là không thiếu, còn thì cái gì mẹ cũng chắt chiu. Bữa cơm thường
chóng vánh, mẹ và cha tránh nhìn vào mắt nhau. Cây sào phơi đồ bên hông
nhà gió kẽo kẹt trêu ngươi, quanh năm phất phơ mảnh áo cha bị luồng cào
rách mướp, mẹ cứ vá víu nơi này luồng lại cào rách nơi khác. Nhiều lúc
Xuân giận mẹ khi đứng giữa rừng luồng hun hút, gùi măng trên vai thì
nặng mà không biết tiếng gọi cha gọi mẹ vướng víu trên ngọn cây nào. Mãi
sau này, Xuân cũng quen, rừng luồng em thuộc nằm lòng từng hướng, lối
cha vác luồng xuống đồi đã tạo thành con đường mòn nhỏ. Em như con sóc
nhanh nhẹn chạy lên chạy xuống nhắn cha mẹ nấu xong cơm, nhưng cha còn
nấn ná rửa cái bể xi-măng cho bà hứng nước mưa, cha muốn ngồi lai rai
với mấy ông bạn hàng xóm, cha mải mê ngắm người ta thu gom cá tính tiền
hàng chục triệu, cha nói khơi khơi:
- Mẹ con mi cứ ăn trước đi…
Mấy lần đầu thì mẹ ngồi chờ, sau mẹ dọn cơm ăn trước, có khi đang ăn lại vứt đũa bỏ dở bát cơm.
Trời vào mùa mưa, cha phủ lên mái nhà tấm bạt hai lớp, mưa không nhỏ từ
trên mái xuống, nhưng gió hợp sức với mưa xô cửa táp vào nhà. Làng nằm
trong rốn bão, trước kia dân làng ở trên đồi nhiều lắm, còn trỉa ngô
trồng khoai, nhưng cứ một trận bão đi qua là bao nhiêu công sức đổ rạp
ngổn ngang trên nền đất nhão. Tháng tháng năm năm dân làng chuyển dần
xuống chân dốc, thanh niên trai tráng trong làng hè nhau đi biển, đàn bà
trẻ con ở nhà trồng cói dệt chiếu, đan lưới đan phên. Bây giờ, trên đồi
người ta trồng bạt ngàn luồng, thứ cây dẻo dai cứ vươn lên xanh mướt,
từng cụm gốc già nua bao bọc lấy măng non, chúng nương tựa vào nhau
trước bão dông, vút cao tăm tắp, rễ bám sâu vào đất đồi cằn cọc miệt mài
tích nhựa nuôi cây.
Qua mấy mùa bão dông, cha đã chán ngán việc chèn giữ cửa, mẹ xiêu lòng
với cơn hen của Xuân sau mỗi trận mưa rào. Mỗi lần thấy trời kéo mây
đen, gió đổi chiều gai gai da thịt mẹ lại giục Xuân chạy ù xuống nhà nội
mà trú, mẹ ở lại một mình. Bà nội ở dưới chân dốc cũng canh chừng, thấy
gió đổi chiều là đong thêm nắm gạo, chọn thêm con cá khô dầy mình nhất,
hái thêm nắm rau trong vườn, mẹ con bà cháu quây quần bên mâm cơm nghi
ngút khói. Có bữa đang ăn thì Xuân khóc, xin bà mang cá mang cơm về cho
mẹ, bà gật đầu ngay nhưng đi được nửa chừng dốc thì cha giật lấy gói cá
liệng vào giữa rừng luồng bảo mang về mẹ giận, lần sau con đừng xin.
Những lần trốn mưa Xuân lao vun vút trên con đường mòn, em bỗng thấy
mình như mũi tên tre bé nhỏ, những thân xanh óng ánh bao bọc lấy em cho
đến khi em áp mặt vào gối chiếu nhà bà thì luồng răng rắc vặn mình.
Không một ai ngoài rừng luồng biết khi cha và em đã yên trí bên mâm cơm
nghi ngút nhà nội, có một người lặng lẽ, nhanh nhẹn băng lên ngôi nhà ọp
ẹp lẻ loi.
Luồng chở che cho thân hình mảnh dẻ của Xuân, và luồng cũng chở che cho kẻ si tình tội lỗi.
Rồi mẹ sinh em. Xuân xách cà men xuống đồi, bà nội bới cho em đầy cà men
cơm trắng, ít thịt nạc kho gừng để mẹ ăn chiết dạ. Hôm mới sinh mẹ lắc
đầu bảo Xuân ăn hết đi, mẹ không ăn. Nhưng cu em bé bỏng cứ dứt dứt núm
vú mềm teo, cựa quậy khóc bứt rứt cả đêm không tròn giấc, mẹ xót con,
chồng xót vợ, Xuân van mẹ ăn đi rồi từ từ con tập nấu cơm, qua hôm sau
mẹ cũng cầm thìa vừa ăn vừa trào nước mắt.
Sáng nào Xuân xuống, bà nội cũng đón từ đầu ngõ, vừa tất bật xới cơm gắp
thịt kho gừng vừa tíu tít hỏi thằng cháu đích tôn của bà thế nào? Có
khá không? Tóc có nhiều không? Xuân tả tỉ mỉ cho bà mớ tóc tơ của em,
cái chân xinh xinh đôi mắt tròn đen láy, da dẻ hồng hào trắng nhất xóm
mình. Dù đã hỏi dễ mấy chục lần, lần nào bà cũng tròn mắt rứa à, rứa a
và thường bất giác đưa tay ra trước Xuân người hơi nhịp nhịp như đang bế
bồng thằng nhỏ. Xuân cứ cười rũ ra rồi về kể lại cho cha mẹ, mới đầu mẹ
chau mày, sau thì mẹ cười, rồi có lần mẹ khóc.
Xuân ấp ủ giấc mơ một ngày nào đó mẹ đưa cu em xuống dốc, em được ngủ
ngoan trong chăn gối ấm hơi trầu. Thằng bé sẽ lớn lên, Xuân sẽ chia cho
em mấy cây na trong mảnh vườn thênh thang của nội, sẽ đào khoai sọ lùi
vào than củi, chị em chia nhau cắn những miếng bở tơi, Xuân sẽ cõng em
đi khoe với mấy đứa bạn trong xóm cho chúng nó thấy da em trắng muốt,
môi đỏ tươi, mái tóc tơ mềm…
Xuân lên kế hoạch của một người vá víu tấm chăn đã rách lâu ngày. Ngày
ngày xuống dốc lên đồi, em nói với mẹ bà muốn lên thăm em, nói với bà mẹ
hỏi bà có khỏe, cái chân bệnh khớp lúc trở trời đã bớt đau chưa. Cha
mỉm cười khi thấy con gái mình đã ra ràng chị cả, em lo toan nhiều
quá... Rồi bà cũng nhận lời, sẽ nấu xôi chè cúng mụ bà cho cu em ngày
đầy tháng, mẹ cũng gật đầu nhờ bà lên giúp. Xuân háo hức trước mấy ngày,
em hát líu lo giữa rừng luồng, chạy lên chạy xuống không biết mệt.
Luồng cũng vít vu như reo hát, chung niềm vui, chung chiến công với em.
Nhưng tấm chăn em vá víu rộng và dài quá mà sợi chỉ yêu thương em nối mãi chẳng đủ dài…
Nhìn bà tấp tểnh cái chân bị khớp từ dưới dốc lên, bao nhiêu bát đĩa xôi
chè em giành mang hết, bà vui, cháu vui là thế mà khi mở cửa không thấy
mẹ và cu em đâu. Xuân chỉ sợ bà giận, em níu tay bà bảo bà đợi cháu một
tị một ti, chắc mẹ chỉ loanh quanh đâu đó. Em háo hức ra sau chái nhưng
không thấy mẹ, em tìm quanh nhà, rồi rộng hơn, xa hơn, em khản cổ gọi
mẹ, gọi cu em nhưng rừng luồng im bặt, những thân cây mảnh khảnh vươn
lên cao vút lặng im, chúng che giấu điều gì tội lỗi, chúng xấu hổ không
nhìn em lấy một lần. Cha tìm thấy em khi em đang ngồi khóc, lặng lẽ xốc
em lên vai. Bàn tay thô ráp vò mái tóc rễ tre bết bát mồ hôi, nhẹ nhàng
vỗ vỗ tấm lưng gầy guộc. Em cun cút theo bà xuống dốc, cha buộc dây
thừng vào cây cột cái, bặm miệng vắt sợi dây lên vai, lấy đà bước xuống
dốc. Tổ ấm xiêu vẹo rồi đổ đánh huỵch, em sững lại nhìn những kèo những
cột, những lá những phên ụp xuống giữa rừng luồng. Bà kéo tay em giọng
nghẹn đi:
- Mình về thôi cháu.
Cha bước xuống đồi, thân hình cao lớn rũ ra như vừa bị ai rút mất xương
sống, bước chân liêu xiêu như người say. Bà dặn Xuân đừng bao giờ hỏi gì
về mẹ, đừng làm đau lòng cha. Cha uống rượu nhiều hơn, có khi tối mịt
cũng chưa về nhà ngủ. Chiếu nệm vẫn ấm mùi trầu mà em thấy lạnh lẽo quá,
tấm thân gầy guộc của bà không đủ ấm cho em. Xuân vẫn mơ thấy mẹ ngồi
trên cái chõng tre vạch áo cho cu em bú, vừa rung rung đùi cho cu em ngủ
vừa phe phẩy quạt cho Xuân. Người mẹ thơm mùi sữa, má thằng cu em thơm
mùi của mẹ, Xuân hít hà đôi má bầu bĩnh mãi không thôi…
Nhiều đêm Xuân chong đèn đi tìm cha, tìm khắp xóm trên xóm dưới, người
ta nói cha đi ra biển, Xuân cầm đèn ngược gió mà chạy, đèn tắt từ khi
nào Xuân không biết, tay em vẫn nắm chặt sợi dây thép treo đèn. Dưới
trăng, em thấy cha áp mặt vào mạn thuyền, còng queo như chưa bao giờ lực
lưỡng. Biển hát ru những lời ầm ì tẻ nhạt, từng đợt sóng đánh dạt vào
bờ, rồi lại vội vã chạy vút ra khơi. Xuân không đếm được bao nhiêu đêm
như thế.
Rồi một hôm cha đi đâu thật sớm, lúc trở về mang theo thùng nhựa đường,
cha lật chiếc thuyền vẫn nằm úp bên hông nhà chăm chút quét lớp nhựa
đường đen bóng. Bà đứng bên bụi khoai sọ sụt sùi nước mắt. Bà nói khẽ:
- Con ơi! Ăn của biển bạc lòng!
Hôm sau cha lên huyện cả buổi chiều, tối muộn về lụi hụi nhét mấy cái áo
quần vào túi. Bà bật dậy níu tay cha ở lại. Cha gắt lên:
- Mẹ thật rầy rà, con sức rộng vai dài, còn phải nuôi con Xuân ăn học.
Bà cố níu:
- Mi ở nhà thêm vài ngày, sớm mai ra chợ, tau mua ít thịt thăn giã cho hộp ruốc mà mang theo.
Cha dứt khoát:
- Mẹ quên rồi sao, người ta ra biển theo ngày trăng con nước, con đi thuyền với người ta.
Đêm đầu tiên cha lênh đênh ra khơi, hai bà cháu trằn trọc không ngủ
được, Xuân hỏi bà ngày ông không trở về từ biển, và mẹ mình bà còn giấu
điều gì. Bà luồn bàn tay nhăn nhúm vào tóc em, bảo, người mẹ phải chọn
cách rời xa giọt máu mình mang nặng đẻ đau thật chẳng dễ dàng. Mẹ ra đi
vì cu em không phải con của cha Xuân, vì mẹ còn thương người cũ.
Mẹ trở đi trở lại trong ý nghĩ của Xuân. Em thường trốn bà chạy lên đồi,
nơi căn nhà đổ ụp mà ngồi khóc, chỗ chái nhà lu nước vẫn còn, chỗ ấy mẹ
hay ngồi gội đầu chải tóc… Em cũng thường đi về phía biển ngóng cha trở
về, em thường thắc mắc, trên thuyền lênh đênh giữa khơi xa cha có uống
rượu không, lúc buông lưới giăng câu cha có nghĩ gì đến mẹ. Bà nhận cói
về đan, cói giăng đầy ngõ, bà bảo phải tìm việc gì làm cho đỡ nôn nóng
tay chân. Người trong xóm bảo cả làng đi biển đấy thôi, đàn ông đầu sóng
ngọn gió. Bà tắc lưỡi rằng biết vậy, nhưng lòng không khỏi cồn cào.
Xứ này nhà nào nhà nấy tựa lưng vào đồi, mặt nhìn ra biển. Người ta bảo
tốt cho phong thủy, nhưng bà bảo rằng để tiện ngóng người từ biển trở
về.
Ngày cha Xuân còn nhỏ bà thường dẫn con ra ngủ biển, con vốc cát lấp
chân còng gió, mẹ trằn trọc đợi sớm mai giúp chồng đẩy thuyền ra khơi
hay chờ thuyền cá trở về. Bao nhiêu đêm ngủ biển và những chuyến khơi xa
của ông nuôi cha lớn, những câu chuyện về nước săn nước dịu, về tiếng
chim sẻng tíu tít nhắc cá duội, cá cơm, cá me đang chạy theo đàn cha
thuộc nằm lòng. Biển sống cuộc sống phóng khoáng và mạnh mẽ, đau thương
nhiều nhưng cũng ung dung ngạo nghễ. Con trai trong làng, thuở thủng đáy
ở trần đã mơ giấc mơ khơi xa. Ngoài đó lòng người bao giờ cũng dậy lên
thứ tình cảm rộng lớn và ấm áp, người ta nương tựa vào nhau khi biển
giận dữ. Khối mênh mông xanh biêng biếc mịn như xa tanh cần mẫn vuốt ve
những gay gắt đời thường. Biển thúc giục người ta mạnh mẽ, quyết liệt
trước bão dông và cũng rù rì nhẹ nhàng thổi vào lòng người thói quen
bình tĩnh, gột rửa những muộn phiền.
Nhưng biển cũng cướp mất ông.
Từ đó bà cấm cha không đi về phía biển. Bà vẫn giữ thói quen trông ra
phía biển sớm hôm chiều muộn. Bà biết mẹ Xuân vẫn nhung nhớ người xưa.
Một chiều, hoàng hôn đã buông, mặt trời rệu rã tìm về chốn nghỉ, ráng mỡ
gà còn rơi rớt đủ trông tỏ ánh mắt mẹ Xuân nhìn người xưa rưng rức… Bà
vội vã trở về nhà, bàn tay run rẩy lần giở cuốn lịch, miệng lầm bầm tính
ngày tính tháng, bà gặng hỏi Xuân sinh ngày tháng năm nào. Mẹ đánh rơi
bọc cá trước thềm nhà, đêm hôm ấy mẹ thu gom đồ đạc, trí nghĩ bị lấp đầy
vì uất ức. Đàn bà khi đã nghi ngờ nhau, thật khó mà đi ra đi vào chạm
mặt, điều nghi ngại khiến người mẹ đau đớn nhất không gì khác là giống
dòng máu mủ của đứa con. Nhiều lần một tia nghĩ ác độc nhen lên trong
đầu mẹ chỉ vì Xuân giống cha như đúc, từ mái tóc rễ tre, mồ hôi muối bết
bát đến đôi chân nhỏng giò như ống đồng, nhưng ý nghĩ ấy cũng vội vàng
bị dập tắt khi Xuân cất tiếng gọi:
- Mẹ ơi!
Bà không cản cha vác rựa vác cột dựng nhà trên lưng chừng dốc, bà tự
trách mình đã cấm cha ra biển, làng mình trai gái nào mà không nhờ biển
se duyên. Nếu bà không cấm cha đi về phía biển, biết đâu đấy mẹ Xuân
không phải cô Mùi…
Rồi cha cũng trở về, một buổi sáng trời trong xanh như ngọc, Xuân thấy
dáng cha vạm vỡ từ xa, em áp mặt vào vòm ngực mặn mùi của biển. Những
ngày ở nhà, không lúc nào cha để chân tay nghỉ ngơi. Cha mang rìu đánh
gốc luồng già trồng lứa mới, phát luồng đan phên phơi cá để cho bà cháu
ăn dần, cha cũng đan lại hàng rào, đánh luống trồng thêm khoai sọ, thay
mới cái bóng đèn leo lét chỗ bàn học cho Xuân. Cha không quen nựng nịu,
câu âu yếm nhất cha nói với Xuân mà rằng:
- Mi giống tau như đúc mi hầy.
Mãi về sau này, Xuân thường theo cha ra biển mỗi lần thuyền ra khơi,
đứng nhìn thuyền cha rẽ sóng về phía mặt trời đang mọc, ngắm từng đợt
sóng đánh vào bờ ào ạt, đợt sóng này bị đánh lùi ngay lập tức những đợt
sóng khác lại đánh vào bờ liên tiếp. Có lần cha bảo: “Sóng vỗ bờ hát
khúc hát tiến lên”. Những lần cha trở về, Xuân hay bắt gặp ánh mắt đàn
bà xóm chài nhìn cha óng ánh khác thường. Em cũng như những người đàn bà
làng chài sớm có nếp quen ngóng ra phía cổng. Bà nói: Biết đâu sau này
sẽ có thêm người ngóng cha từ phía biển cùng em. Em cũng mơ về tấm chăn
mới tinh tươm khi thi thoảng lại thấy cha đi ngủ biển. Biển nuôi xóm
làng khôn lớn và biển muôn đời vẫn cần mẫn se duyên.
|
Truyện ngắn của Hoàng Hiền |
Friday, April 20, 2018
Ngủ biển - Hoàng Hiền
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment